tưới nhỏ giọt

Tưới dâu tây trong nhà kính

Tưới nhỏ giọt cho cây trồng trong chậu, túi, bịch

Tưới nhỏ giọt cho cây trồng trong chậu, túi, bịch

Do đặc điểm của cây trồng và yêu cầu chất lượng, một số cây thường được trồng trong túi – bịch – chậu và đặt trong nhà kính.

Đối với các loại cây trồng này thì phương pháp tưới nhỏ giọt bằng que cắm cố định thường được áp dụng.

Tưới nhỏ giọt cho cây trồng trong chậu

Hệ thống thiết bị bao gồm:

Hệ thống trung tâm (gồm bơm, hút phân, lọc, các loại van xả khí, điều áp, đồng hồ đo áp…)
Hệ thống đường ống: Ống trục chính và ống nhánh LDPE
Hệ thống thiết bị tưới

Que cắm nhỏ giọt
Các thiết bị cho tưới nhỏ giọt bằng que cắm cho cây trồng trong túi, bịch, chậu

Ở hệ thống thiết bị tưới của phương pháp này thường phức tạp hơn so với phương pháp tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc hay tưới nhỏ giọt dọc hàng bởi nó cần kết hợp giữa nhiều thiết bị khác nhau (hình trên).

Bà con có thể thấy nó gồm:

Đầu tưới nhỏ giọt thường áp dụng loại 2l – 4l hoặc 8l/h
Thiết bị chia: có thể chia 1, 2 hoặc 4 (mỗi đầu nhỏ giọt chia tưới 1, 2 hoặc 4 chậu)
Ống dẫn nước LDPE cỡ 3x5mm
Và que cắm định vị (que Snapeg thường dùng với đầu chia 1; que dripeg thường dùng với đầu chia 2 hoặc 4)

Tưới nhỏ giọt cho cây trong chậu

 

tưới tiết kiệm nước tại Ninh thuận

Nhân rộng mô hình tưới tiết kiệm nước ở Ninh Thuận

Ngày 16-11, Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận tổ chức Hội nghị chuyên đề tưới tiết kiệm nước, nhằm đánh giá tình hình, những kết quả đạt được, đề ra các giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc và kế hoạch nhân rộng mô hình, nâng cao hiệu quả sản xuất, ứng phó với biến đổi khí hậu.

tưới tiết kiệm nước tại Ninh thuận
Nông dân xã Hòa Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận chủ động trồng cỏ áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm, năng suất cao, bảo đảm nguồn thức ăn cho đàn gia súc trong mùa hạ

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Thuận, từ năm 2007 đến nay, toàn tỉnh có 24 mô hình sản xuất áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm với tổng diện tích hơn 7.000 ha. Tùy theo vùng sản xuất, nông dân áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm khác nhau.

Tại huyện Ninh Phước, qua ba năm (2010-2012) triển khai mô hình “một phải năm giảm” trong thâm canh cây lúa, nông dân sản xuất ban đầu 20 ha, áp dụng phương pháp dùng ống chia vạch (phương pháp tưới ướt khô xen kẽ), đến nay, mỗi năm, mô hình nhân rộng lên hàng nghìn ha. Trong năm 2016, nhân rộng hơn 6.100 ha với gần 12.000 hộ nông dân tham gia.

Tại các vùng trồng các loại rau ăn lá, măng tây, đậu phộng, ớt, cà chua, dưa leo… ở xã An Hải, huyện Ninh Phước, năm 2006, nông dân bắt đầu áp dụng công nghệ tưới phun mưa để sản xuất thử nghiệm 2 sào (2.000m2), đến nay, mô hình được nhân rộng lên 348 ha trên địa bàn toàn tỉnh. Nông dân Hùng Ky ở thôn Tuấn Tú, bộc bạch: “Gia đình tui (tôi) có 2,4 ha đất sản xuất, trước kia đào hai cái giếng, mỗi cái rộng 4 m, sâu 9m, nhưng nước không đủ tưới, vào mùa hạn, phải bỏ đất trống. Từ năm 2010 đến nay, được dự án IDE Việt Nam về công nghệ tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa hỗ trợ, gia đình đã chỉ bỏ ra 90 triệu đồng, lắp đặt toàn bộ hệ thống ống dẫn, van phun… nhờ đó, giảm lượng nước tưới từ 40- 50% trên toàn diện tích so với trước, năng suất lại cao hơn”.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Thuận Phan Quang Thựu cho hay, hiện nay, nhiều vùng trồng mía, nho ở các huyện Ninh Sơn, Ninh Phước, Thuận Nam, Ninh Hải, Thuận Bắc đều triểnkhai mô hình tưới tiết kiệm và đạt hiệu quả cao trong sản xuất. Tại huyện Ninh Sơn, thông qua sự hỗ trợ của Công ty CP đường Biên Hòa – Phan Rang, trong ba năm qua, nông dân áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt và tưới phun cho 200 ha mía, không còn bị động nước tưới vào mùa khô hạn, chân đất dưới gốc mía luôn giữ độ ẩm tốt, cây mía vẫn cho năng suất cao.

Tại nhiều vùng trồng nho, táo, xoài, mãng cầu… trên địa bàn tỉnh, nhờ áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt tận gốc, tưới phun mưa tầm thấp, đã tiết kiệm từ 40-60% lượng nước tưới, giảm 30% công lao động, tiết kiệm 30% lượng phân bón, giảm gần 4% chi phí đầu tư, nhưng lợi nhuận thì tăng từ 9-11% so với phương pháp tưới truyền thống (tưới thả tràn).

Những năm qua, Hội Nông dân tỉnh và IDE Việt Nam đã có nhiều ký kết triển khai các dự án tưới tiết kiệm tại 40/65 xã, phường, thị trấn trong tỉnh, đến nay, đã có 2.351 hộ lắp đặt, sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước sản xuất cho gần 800 ha với tổng kinh phí đầu tư hơn 21 tỷ đồng. Kết quả, tại các vùng nắng hạn, nông dân vẫn sản xuất ổn định các loại cây màu ngắn ngày, năng suất và giá trị kinh tế cao. Hiện tượng hàng trăm ha đất phải thường xuyên bỏ hoang vào mùa hạn ở những nơi này không còn nhiều như trước nữa.

Nông dân Nguyễn Khắc Phòng ở thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, cho biết, đất sản xuất ở đây chủ yếu là đất cát ven biển, từ đầu năm 2011 đến nay, nhờ áp dụng phương pháp tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt, nên hầu hết diện tích trồng ớt, tỏi, nho, hành… không bị chết khô vào mùa hạn vừa qua. Đến nay, tại địa phương đã có 500 hộ đầu tư lắp đặt công nghệ này và sản xuất ổn định.

Qua thực tế, cho thấy Ninh Thuận đang triển khai có hiệu quả việc áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước trong sản xuất. Do đó, nhân rộng mô hình là nhu cầu cấp bách. Tuy nhiên, vẫn còn một số băn khoăn khác, Ninh Thuận là tỉnh có lượng mưa trung bình thấp nhất cả nước (700-770mm từ tháng 9-11 hàng năm); trong khi đó, lượng bốc hơi hàng năm cao gấp 2,5 lần lượng mưa; phần lớn mạch nước tại các giếng đào, giếng khoan là mạch ngang, nên tích nước ít; địa phương chưa có chế tài việc sử dụng nguồn nước.

Hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh nhỏ và thiếu liên kết, nên vào mùa mưa thì hầu như nhiều hồ phải xả lũ, nên việc tích nước không nhiều thường xuyên xảy ra, dẫn đến hệ quả là sau hai tháng mưa lũ trong năm, mười tháng còn lại nông dân luôn canh cánh nỗi lo thiếu nước sản xuất, do đó mà sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh chưa đạt được tính bền vững như mong muốn.

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nguyễn Tin cho biết, ngoài việc đầu tư công trình thủy lợi, cần có chính sách hỗ trợ giúp nông dân lắp đặt các công nghệ tưới tiết kiệm nước để chuyển đổi cây trồng phù hợp thì kết quả ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ tốt hơn.

Từ nay đến năm 2020, Ninh Thuận tiếp tục nhân rộng mô hình này lên 14.700 ha (mỗi năm nhân rộng 45 mô hình) với tổng kinh phí hơn 141 tỉ đồng, trong đó vốn do nhân dân đóng góp là 100 tỉ đồng, còn lại là vốn ngân sách nhà nước. Điều này cho thấy, nông dân đã quan tâm việc sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm.

Vấn đề đang vướng mắc mà tỉnh cầm sớm tháo gỡ, đó là nhanh chóng xây dựng đề án tưới tiết kiệm với những chính sách khuyến khích, ưu đãi để nông dân có điều kiện vay vốn từ các ngân hàng đầu tư kinh phí lắp đặt công nghệ. Mặt khác, các cấp, các ngành ở địa phương cần tăng cường phối hợp các viện, trường, cơ quan nghiên cứu trong việc xây dựng, chuyển giao công nghệ tiên tiến, chi phí đầu tư thấp và dễ ứng dụng, phù hợp trình độ của nông dân. Có như vậy, việc nhân rộng mô hình tại Ninh Thuận sẽ đạt kết quả cao hơn kế hoạch đề ra.

NGUYỄN TRUNG

Diện tích cây trồng được tưới tăng đáng kể

Tưới nhỏ giọt và phun mưa cục bộ được ứng dụng rộng rãi

Theo Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay, đã có khoảng 143.800 ha cây trồng cạn được áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước như tưới phun mưa cục bộ và tưới nhỏ giọt.

Cụ thể, vùng Đông Nam bộ có 58.400 ha, vùng Tây Nguyên 35.700 ha, miền Trung 18.500 ha, Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 19.500 ha, Trung du và miền núi phía Bắc hơn 14.200 ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi Nguyễn Văn Tỉnh, thời gian tới sẽ đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đồng bộ, trên diện rộng thúc đẩy áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho các loại cây trồng chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, điều, mía….

Người dân trồng rau màu trên đất lúa giúp giảm đáng kể lượng nước tưới. 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo thực hiện Kế hoạch khung hành động phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn.

Ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển, tuyên truyền phổ biến, chỉ đạo xây dựng các mô hình liên kết tổ chức sản xuất nông nghiệp công nghệ tiên tiến gắn với tưới tiết kiệm nước ở các địa phương: Lào Cai, Hòa Bình, Lâm Đồng, Sơn La, Đồng Nai, Bình Thuận, Gia Lai, Bình Phước…

Đồng thời rà soát, ban hành các Thông tư; 14 quy trình hướng dẫn tưới tiết kiệm nước kết hợp bón phân cho các cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch thủy lợi phục vụ tưới cho cây trồng cạn. Xây dựng nhiều mô hình mẫu tổng hợp, tưới tiết kiệm nước cho cây trồng cạn gắn với sản xuất thâm canh bền vững…

Theo mục tiêu của đề án Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác công trình thủy lợi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2020, cả nước có 500.000 ha cây trồng cạn được tưới bằng các biện pháp tiên tiến, tiết kiệm nước. Tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Nam Trung bộ.

Xác định tưới cho cây trồng cạn là định hướng cần phải phát triển mạnh đối với tái cơ cấu thủy lợi trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang trình Chính phủ Nghị định về một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn./.

Bích Hồng/BNEWS/TTXVN

đầu tưới nhỏ giọt nối tiếp

Tưới nhỏ giọt cho vùng nước nhiễm phèn, mặt & nhiều phù sa

Dau nho giot noi tiep

Tưới nhỏ giọt cho vùng nước nhiễm phèn, mặt & nhiều phù sa

Hiện nay, tưới nhỏ giọt trong nông nghiệp đang nhanh chóng trở nên phổ biến và khẳng định được hiệu quả. Ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tưới nhỏ giọt cho Hồ tiêu, cây ăn trái được áp dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên với vùng nước nhiễm phèn nhiều như Tây Nam Bộ thì việc ứng dụng tưới nhỏ giọt lại bị hạn chế vì thường xảy ra hiện tượng tắc nghẽn.

Hiểu được những rắc rối trên, đi tìm giải pháp khắc phục hiện tượng này, chúng tôi xin giới thiệu tới bà con Sản phẩm mới: Đầu tưới nhỏ giọt nối tiếp

Đầu tưới nhỏ giọt nối tiếp ngoài những ưu điểm cơ bản như của một hệ thống tưới nhỏ giọt như: tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng chạy máy bơm, tưới được phân bón, giúp bộ rễ tiếp cận nước từ từ, hạn chế sự phá triển của cỏ dại, tiết kiệm tối đa nhân công…

Thì nó còn có một số đặc điểm vượt trội như

–       Đầu tưới có rãnh lớn không nằm bên trong đường ống

–       Có thể tháo rời vệ sinh, không sợ tắc nghẽn

–       Kết hợp tính năng phun tia (Tính năng tưới 3 trong 1: nhỏ giọt, phun mưa, tưới phân)

–       Điều chỉnh được lưu lượng

–       Điều chỉnh được khoảng cách các lỗ nhỏ giọt

Chúng tôi đánh giá đây là một thiết bị rất hiệu quả trong nông nghiệp, đặc biệt tưới các loại cây ăn trái ở vùng có nguồn nước nhiễm phèn, nhiễm mặn, hoặc nhiều phù sa.

tưới nhỏ giọt cho cây dâu tây

Hướng dẫn về phân bón và tưới nước cho dâu tây

Việc cung cấp hướng dẫn theo quy chuẩn về tưới nước cho dâu tây rất khó do có nhiều mô hình trồng dẫn đến bố trí hệ thống tưới nước khác nhau. Mục đích của ghi chú này là giúp người trồng ở Tây Úc hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu mùa vụ, qua đó họ có thể điều chỉnh các hoạt động trồng trọt cho thích hợp.

Yêu cầu về phân bón đối với các loại dâu tây khác nhau là khác nhau mặc dù nhiều người trồng sử dụng chung một công thức cho tất cả các loại dâu tây.Example of fertigation equipment used in strawberry production

Nước và đất

Nước tưới cho dâu tây cần có chất lượng thực sự tốt, bởi vì dâu tây rất nhạy cảm với muối, đặc biệt là clorua (chứ không phải natri).

Clorua sẽ bắt đầu làm suy giảm sản lượng ở mức rất thấp. Độ dẫn điện (EC) lý tưởng của nước tưới phải dưới 0,75dS/m (750uS/cm) hoặc tổng chất rắn hòa tan (TDS) 400mg/L.

Sản lượng sẽ giảm khoảng 25% nếu nước chứa 650mg/L TDS (1,20dS/m), và thậm chí hơn nếu nước chứa nhiều muối hơn.

Nếu nước chứa hơn 0,5 phần triệu (ppm) sắt, thì có thể cần phải có biện pháp xử lý nào đó để loại bỏ sắt nhằm tránh làm tắc vòi phun nhỏ giọt.

Độ pH của đất cần nằm trong khoảng từ 5,5 đến 7,5 (axit nhẹ đến trung tính). Nếu cần phải điều chỉnh độ pH, nên thực hiện điều này trước khi trồng bằng cách sử dụng vôi và/hoặc dolomite.

Không cần thiết hay nhất thiết phải áp dụng phân bón ni-tơ (N), kali (K), hoặc phốt pho (P) trước khi trồng nếu đã thực hiện tưới phân. Trong cát thô, chúng sẽ rửa trôi và bị lãng phí trước khi cây trồng phát triển đủ rễ để có thể hấp thụ chất dinh dưỡng. Lớp phủ nền của hỗn hợp nguyên tố vi lượng có thể được sử dụng trước khi trồng nếu muốn vì chúng khó bị rửa trôi hơn, nhưng cũng có thể được sử dụng thông qua tưới tiêu với phần còn lại của phân bón. Nếu thêm phân ủ vào đất, hãy thực hiện ngay trước khi trồng để tránh rửa trôi chất dinh dưỡng.

Nồng độ muối rất cao được quan sát thấy vào đầu mùa khi sử dụng phân ủ trước khi trồng. Điều này cần phải được nhận biết và giám sát, đặc biệt là với các loại giống nhạy cảm hơn như Fortuna.

Nồng độ cao của muối trong phân bón có thể gây hại cho rễ non và dễ bị nhiễm mầm bệnh, dẫn tới bệnh tật. Nồng độ ni-tơ cao vào đầu mùa sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của thân và lá cây nhưng gây ảnh hưởng đến việc ra hoa và quả.

Phân gia cầm

Sử dụng phân gia cầm thô bị cấm ở một số thành phố và huyện ở Đồng Bằng Ven Biển Swan, từ Gingin đến Harvey vì nó tạo môi trường thuận lợi cho loài ruồi sống trong chuồng trâu bò sinh sôi và phát triển, đây là loài gây hại nghiêm trọng cho động vật và con người. Phân gia cầm cũng chứa các chất dinh dưỡng dễ bị rửa trôi, vì vậy trong trường hợp sử dụng lớp phủ nền của phân bón NPK, lượng lớn phân bón sẽ bị lãng phí trước khi cây trồng hấp thụ được. Các sản phẩm khác như phân gà trộn và các loại phân trộn khác không nuôi loài ruồi sống trong chuồng trâu bò nhưng vẫn có thể rửa trôi chất dinh dưỡng như đề cập ở trên.

Khi tạo luống, phải đảm bảo đất được xới kỹ. Đất xốp sẽ giảm nước chảy lan ra hai bên và quá trình phát triển cây sẽ bị ảnh hưởng xấu.

Thực hành bón phân và tưới tiêu

Hướng dẫn sau đây được dựa trên nghiên cứu tiến hành ở Wanneroo trong nhiều năm. Với thực hành bón phân và tưới tiêu tốt và phụ thuộc vào giống cây trồng, dâu tây có thể mang đến năng suất ổn định tối đa 1,5 kg trái mỗi cây mỗi mùa vụ.

Năng suất bình quân trong ngành vào khoảng 0,50-0,75 kg nhưng có thể dễ dàng đạt năng suất 1 kg bằng cách tuân theo các hướng dẫn được khuyến nghị sau đây.

Hệ thống tưới tiêu

Vòi phun nước từ phía trên được sử dụng cho quá trình tăng trưởng ban đầu của cây trồng và làm mát cây trong thời tiết nóng, nhưng phương thức tưới nhỏ giọt được khuyến nghị trong suốt mùa vụ.

Tưới nhỏ giọt hiệu quả hơn vì sử dụng ít nước hơn và tưới đều hơn. Trái được giữ khô, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh.

Tưới nước từ phía trên để cây trồng được tăng trưởng chắc chắn

Việc tưới nước từ phía trên nên được sử dụng để ngăn phần thân bò mới trồng khỏi bị héo. Khi cây mới bắt đầu phát triển, chúng sẽ không có rễ phát triển. Việc giảm áp lực cây trồng (héo úa) sẽ thúc đẩy rễ hình thành nhanh hơn và các chất dinh dưỡng có thể được hấp thụ, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt.

Số lần và khoảng thời gian tưới từ phía trên phụ thuộc vào thời tiết và tình trạng phần thân bò khi trồng. Phần thân bò nhỏ gọn với lá nhỏ hơn cần tưới ít nước hơn bởi vì chúng có diện tích lá nhỏ hơn phần thân bò dài với lá lớn, dễ mất nước hơn.

Nhiều người trồng sử dụng cây “không lá”. Nhìn chung, chúng phát triển muộn hơn khoảng hai tuần so với cây có lá và có thể chịu được mức độ lạnh cao hơn. Chúng yếu hơn cây có lá nhưng vẫn cần làm mát từ phía trên.

Khi trồng cây vào tháng 2 hoặc đầu tháng 3, đòi hỏi phải làm mát từ 1 đến 4 lần một giờ trong suốt ngày nóng cho đến khi rễ bám chắc và việc tưới nhỏ giọt có hiệu quả.

Người trồng có thể sử dụng lượng tỉ lệ phân phối nước đáng kể trong suốt thời gian này và vì mục tiêu làm mát hơn là tưới tiêu, sử dụng vòi phun đầu ra thấp với kích thước giọt nhỏ hơn có thể giảm lượng nước sử dụng.

Việc làm mát và đồng nhất tưới tiêu tốt có thể đạt được bằng cách sử dụng đầu vòi phun nhỏ hơn với áp suất phù hợp. Bình phun vòi kép có thể sử dụng tối đa 1000l 1 giờ trong khi một số loại bình phun dòng thấp mới hơn có thể chỉ cần 500L để đạt được kết quả mong muốn.

Tưới nhỏ giọt cần được sử dụng phụ thêm tưới từ phía trên trong suốt quá trình trồng để thúc đẩy rễ bám chắc và ngăn ngừa đất bị khô giữa các hố trồng.

Cát ở Tây Úc có thể không thấm nước hoặc không ướt nếu độ ẩm đất không được duy trì, và hầu như không thể làm ẩm trở lại bằng cách tưới nhỏ giọt. Thậm chí khi đất cát ướt đều, nước lan ra không quá khoảng 15-18cm. Khi đất cát khô, nước chảy theo lối đi sẵn có và không thể lan ra, thậm chí với diện tích nhỏ.

Các yếu tố khác có thể có tác động lớn lên sự thẩm thấu của nước tưới phía trên và mưa, như là:

  • kích cỡ và hình dạng của hố trồng được bấm vào tấm nhựa
  • sự đồng đều của bề mặt luống; và
  • tấm nhựa được đặt chặt thế nào.

Tưới nhỏ giọt

Mô hình phổ biến nhất cho trồng dâu tây thương mại trên cát là hai đường ống tưới nhỏ giọt trên mỗi luống 4 hàng với mỗi đường ống được đặt giữa hai hàng cây bên ngoài.

Tuy nhiên, người trồng sử dụng một loạt các mô hình tưới tiêu và trồng gồm các luống 2, 3, và 4 hàng với 1, 2, hoặc thậm chí 3 hàng dải nhỏ giọt. Một số người trồng trồng 2 hàng thân cây ‘kép’ thay vì 4 hàng có khoảng cách bằng nhau tại mỗi luống.

Vùi nhẹ các đường ống dưới đất để chúng ở nguyên vị trí và không bị xê dịch. Điều này tạo cơ hội tốt nhất cho cây nhận được lượng nước và lượng phân bón ngang nhau.

Khoảng cách giữa vòi phun nhỏ giọt thường là 25 cm nhưng việc đặt gần hơn nếu được sắp xếp có hiệu quả sẽ dẫn tới việc tưới đều hơn và mang lại sản lượng và chất lượng tốt hơn.

Các cuộc thử nghiệm với màu nhuộm và giám sát tưới tiêu ở vùng Wanneroo chỉ ra rằng khối lượng tăng lên (thời gian dài hơn) sẽ không tăng mức lan ra của nước quá khoảng 15-18 cm tổng cộng hoặc 7,5-9 cm ở mỗi bên của vòi phun nhỏ giọt. Điều này chỉ ra rằng khoảng cách 15-20 cm giữa các vòi phun nhỏ giọt sẽ phân phối nước tưới đều hơn cho cây hơn là 25 cm.

Kinh nghiệm ở Wanneroo bao gồm các cuộc thử nghiệm với màu nhuộm cho thấy lợi thế về sản lượng đạt được với khoảng cách giữa các vòi phun nhỏ giọt là 10 cm nhưng điều đó không thực tế đối với nhiều người trồng.

Thời gian vận hành lâu hơn chỉ làm lãng phí nước (và phân bón) bởi nước thấm sâu hơn xuống mặt đất, đi qua vùng rễ.

Vấn đề đặt ra là rễ cây sẽ phát triển theo hướng nước trong lòng đất tới mức độ nào và có những thiệt hại gì đối với sản lượng, nếu có. Ở Florida, đất cũng là đất cát nhưng có tỉ lệ hạt phù sa mịn cao hơn, vì vậy sự di chuyển của nước sang hai bên tốt hơn. Các luống đất cao hơn 30 cm so với lối đi và người trồng muốn thúc đẩy rễ phát triển rộng ra nhằm che phủ luống như một vấn đề ưu tiên sau khi trồng, để tối đa hóa khả năng hấp thụ dinh dưỡng và hiệu quả.

Sự khác biệt giữa các giống cây trồng

Các giống dâu tây khác nhau có sức sống, diện tích lá và sản lượng trái khác nhau, do đó đòi hỏi lượng nước tưới tiêu và phân bón khác nhau. Ví dụ, Fortuna được công nhận là giống ít sức sống hơn, nhỏ hơn. Bộ rễ của nó không thể đâm sâu vào đất như Camarosa và Festival.

Hầu hết người trồng ở WA xem tất cả những giống này là như nhau nhưng đây không phải là lựa chọn tốt nhất, đặc biệt là đối với nước và phân bón.

Nghiên cứu tại Wanneroo đã chỉ ra rằng lịch tưới dựa trên sự bốc hơi nước độc lập không phù hợp với các giống dâu tây được trồng dưới lớp phủ nhựa màu đen, đường hầm cao, hoặc lớp phủ nhựa.

Yêu cầu tưới tiêu

Tình trạng bốc hơi nước và tác động của lượng mưa bị thay đổi bởi lớp phủ nhựa và chuông chụp cây hoặc đường hầm.

Khi trời mưa trong suốt những tháng mát hơn, người trồng thường giảm hoặc ngưng tưới nước vì tin rằng cây trồng hấp thụ nước chảy theo lối đi. Tuy nhiên, trên đất cát thô thì không phải như vậy. Nước chỉ xâm nhập vào luống đất khi lượng mưa lớn (25 mm hoặc hơn) nhưng chủ yếu nằm dưới vùng rễ và chủ yếu rửa trôi phân bón.

Theo dõi độ ẩm của đất là cần thiết để xác định tính hiệu quả của nước được sử dụng và tiềm năng nước trong đất. Thông tin về việc sử dụng cảm biến độ ẩm của đất theo mô hình tưới tiêu tinh chỉnh có thể tìm thấy ở đây.

Các nghiên cứu trước đây ở Tây Úc cho rằng việc thay thế 70% lượng bốc hơi đã đủ để đáp ứng nhu cầu cây trồng trong hầu hết mùa vụ. Kinh nghiệm gần đây hơn chỉ ra rằng yêu cầu về nước có thể cao bằng 100% lượng bốc hơi nước để có sản lượng tối đa.

Sử dụng thiết bị theo dõi độ ẩm đất theo mô hình tưới tiêu tinh chỉnh cho mỗi loại tưới tiêu/khoảng cách cây trồng, giống cụ thể và loại đất là phương pháp tốt nhất.

Trong đất cát ở WA, việc tưới tiêu có thể được chia thành 2 hoặc 3 lần một ngày, thậm chí 4 lần khi lượng bốc hơi hàng ngày khoảng 10mm/ngày. Mục đích là sử dụng lượng nước nhỏ thường xuyên hơn (<3mm một lần) để giữ phân bón ở vùng rễ hơn là dội nó xuống dưới rễ.

Nhiều máy dò độ ẩm đất hiện đại cũng theo dõi được EC (nồng độ muối trong vùng rễ). Điều đó có thể rất hữu ích khi nồng độ bắt đầu tăng vì dâu tây là loại cây trồng nhạy cảm với muối. Nếu nồng độ tăng, chỉ tưới nước trong một ngày để rửa trôi lượng muối tích tụ.

Phân bón

Cần bón phân ít nhất là hàng ngày. Nếu hệ thống có thể duy trì áp suất giữa các lần tưới thì có thể bón phân trong mỗi lần tưới.

Hệ thống hiệu quả đòi hỏi phải có vòi phun phân bón và 2 hoặc thậm chí 3 thùng chứa khác nhau.

Với hệ thống 2 thùng chứa, canxi nitrat và một nửa kali nitrat được hòa tan trong Thùng A và phân bón khác được hòa tan trong Thùng B. Thùng B có thể được phân chia thành nhiều khoang chứa hơn để sunphat và photphat được giữ riêng, tạo thành 3 thùng.

Hệ thống cơ bản nhất sử dụng ống khuếch tán, trong đó một lượng phân bón nhất định được hút vào đường ống. Trong trường hợp đó, người trồng có thể chỉ dùng một thùng, và vì một vài chất dinh dưỡng không thể trộn lẫn với nhau, nên có thể bón hai lần khác nhau vào những ngày khác nhau.

Người trồng bón thủ công thường bón phân ít hơn bởi vì quá trình đòi hỏi nhiều công sức. Thường là 3 đến 4 ngày một lần. Nhưng việc theo dõi chất dinh dưỡng trong đất chỉ ra rằng mức phân bón giảm nhanh chóng giữa các lần bón. Điều này sẽ giảm sự tăng trưởng của cây trồng.

Một ví dụ về chương trình phân bón được thể hiện ở Bảng 1. Các loại phân bón khác có thể được sử dụng để tạo ra số lượng đề xuất cho mỗi thành phần yêu cầu. Chú ý rằng lượng phân được tính trên một hecta diện tích luống, không bao gồm các lối đi

Bảng 1 Ví dụ về dung dịch dinh dưỡng được sử dụng qua tưới tiêu
Sản phẩmTỉ lệ (kg/ha/ngày)Chất dinh dưỡng được sử dụng (kg/ha diện tích luống)
NPKCaMg
Canxi nitrat (15,5% N, 19% Ca)6,51,01,2
Kali nitrat (13% N, 38% K)6,40,82,4
Magiê sunphat  (9,9% Mg)3,00,3
Mono amoni photphat1,90,20,4
(11% N, 22,8% P)
Tổng chất dinh dưỡng sử dụng một ngày2,00,42,41,20,3

Chương trình phân bón này sử dụng khoảng 450 kg Ni-tơ, 100 kg photpho, 580 kg kali, 288 kg canxi và 76 kg magiê cho một hecta trong một mùa vụ (tháng 4 đến tháng 11). Tỉ lệ ni-tơ vượt quá 450 kg/ha ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị của trái.

Mặc dù người ta thường tin rằng dâu tây không thể được cung cấp ni-tơ (N) ở dạng amoni, các thử nghiệm trên thế giới đã chỉ ra rằng việc hấp thụ N tốt hơn khi có amoni. 1/4 lượng N yêu cầu có thể được cung cấp ở dạng amoni khi trồng trên đất, trái lại với trồng trong nước. Lượng lớn hơn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng trái, làm trái mềm (dễ bị bầm dập và thối vì nấm hơn) và không có hương vị.

Nguyên tố vi lượng

Bạn có thể bổ sung tất cả các nguyên tố vi lượng vào đầu mùa bằng cách rải lên, sau đó cuốc xới luân phiên (được trình bày trong Bảng 1). Hoặc có thể thêm chúng vào hỗn hợp dung dịch dinh dưỡng ở trên.

Nếu thêm sunphat, chứ không phải chelate, bạn cần để chúng trong thùng ‘B’.

Bảng 2. Lựa chọn phân bón nguyên tố vi lượng
Phân bónCông thứcKhối lượng
(g/1000L)
Chelate sắtFe-EDTA 13%860
Mangan sunphatMnSO4.H20169
BoraxNa2B4O7.10H2O953
Kẽm sunphatZnSO4.7H2O201
Đồng sunphatCuSO4.5H2O19
Natri molybdateNa2MoO4.2H2O12

Hoặc, sử dụng hỗn hợp nguyên tố vi lượng riêng và bổ sung vào thùng thích hợp theo tỉ lệ được khuyến nghị:

Lưu ý:

  • Độ dẫn điện (EC) của dung dịch dinh dưỡng phát ra từ vòi phun nhỏ giọt không được vượt quá 2μS/cm. Nồng độ muối cao có thể gây hại cho cây trồng.
  • Canxi nitrat không được trộn trong cùng thùng với phân bón có photphat hay sunphat.
  • Khi tưới phân, giữ đất tại hoặc gần đới giữ nước để tránh tập trung muối ở vùng rễ. Khi đất khô, nồng độ muối sẽ tăng lên.

Hiệu chỉnh máy bơm phun dung dịch dinh dưỡng

  1. Khởi động máy bơm phun và tưới.
  2. Điều chỉnh mỗi máy bơm phun có cùng công suất.
  3. Đo EC ở vòi phun nhỏ giọt và điều chỉnh mỗi máy bơm phun lên hoặc xuống để có EC khoảng 2,2µS/m tổng cộng, ví dụ như 1,7µS/m cho phân bón và 0,5µS/m cho nước giếng khoan.
  4. Đo công suất máy bơm phun trong một phút để xử lý tốc độ dòng chảy

Tính thời gian phun (ví dụ đã thực hiện)

Giả sử bạn đang sử dụng 2 thùng 1000L cho dung dịch phân bón gốc. Lượng phân bón sau đây được chứa trong 2 thùng.

75 kg canxi nitrat

75 kg kali nitrat

36 kg MAP

18 kg magiê sunphat

Có 23,4 kg phân bón chứa ni-tơ trong công thức trên. Nếu bạn có 2 máy bơm, mỗi máy có tốc độ dòng chảy là 120L/ giờ, thì sẽ mất 2000/120 = 16,6 giờ trước khi bơm cạn thùng.

Tốc độ phun – 23,4kg N/16,6 giờ = 1,40kg N/giờ = 23,5g N/phút

Nếu diện tích của một trạm là:

9 luống, mỗi luống 4 hàng 125m dài x 1,2m rộng = 1350m2

VÀ lượng ni-tơ cần là  2kg/ha một ngày

= 0,2g/m2/ngày

= 0,2 x 1350m2

= 270g

Thời gian phun = 270/23,5 = 11,5 phút

Để tăng hoặc giảm lượng N, bạn có thể thay đổi thời gian phun hay tăng nồng độ công thức, miễn là EC cuối cùng không vượt quá 2,2Sµ/m.

Công nghệ nông nghiệp Israel

Công nghệ nông nghiệp Israel hỗ trợ nông dân vùng hạn

Công nghệ Nông nghiệp Israel

Vừa qua, Chi nhánh VCCI Nghệ An đã phối hợp với Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tổ chức Hội thảo “Kinh nghiệm và Công nghệ Israel hỗ trợ nông nghiệp tại vùng khô hạn” tại tỉnh Nghệ An.

Hội thảo diễn ra với mong muốn mở rộng mối quan hệ thương mại, đầu tư, kết nối giao thương giữa cộng đồng doanh nghiệp Nghệ An và các tỉnh Bắc miền Trung với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ tưới tiêu vùng khô hạn – một thế mạnh của Israel.

Tại Hội thảo, ông Zafrir Asaf – Trưởng phòng Kinh tế Thương mại, Đại sứ quán Israel đã có bài thuyết trình giới thiệu về kinh nghiệm và công nghệ Israel hỗ trợ nông nghiệp tại vùng khô hạn; cung cấp giải pháp xử lý, quản lý nước tưới và dinh dưỡng cây trồng; khảo sát thiết kế hệ thống tưới miễn phí cho từng nông hộ.

Hội thảo cũng đã nghe đại diện lãnh đạo Viện Khoa học Đất, Nước & môi trường – Trung tâm Vocanic, Israel cùng các Công ty Israel trong các lĩnh vực nông nghiệp, xử lý nước, thiết bị tưới, công nghệ nuôi cá, giải pháp nuôi trồng thủy sản, sản xuất thiết bị nhà kính cung cấp các thông tin hữu ích cũng như giới thiệu về những thế mạnh của doanh nghiệp. Cũng tại Hội thảo, các doanh nghiệp tham dự đã được các chuyên gia Israel tư vấn, hỗ trợ và giải đáp các vấn đề liên quan. Tại đây, một số doanh nghiệp đang triển khai các dự án trồng rau sạch, trồng cam sạch và cây có múi, trang trại chăn nuôi, trồng rau trong nhà kính… đã có ý tưởng và sắp tới sẽ đầu tư, áp dụng một số công nghệ Israel vào doanh nghiệp của mình.

Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia đối tác quan trọng của Israel trong lĩnh vực nông nghiệp. Một số công nghệ trong lĩnh vực tưới, xử lý nước thải, trồng rau sạch trong nhà kính, chăn nuôi bò sữa đã được doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu và ứng dụng một cách có hiệu quả. Chúng ta đã được thấy TH True Milk – một trong những thương hiệu sữa tươi hàng đầu của Việt Nam – là một ví dụ thành công trong triển khai và áp dụng công nghệ chăn nuôi bò sữa. Công nghệ tưới nhỏ giọt và các công nghệ Israel hỗ trợ nông nghiệp tại vùng khô hạn cũng đang được triển khai ở Việt Nam một cách hiệu quả, hứa hẹn tạo ưu thế so với phương pháp tưới rãnh và tưới phun truyền thống.

Israel hiện là quốc gia có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu, không những đáp ứng đủ cho 95% nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các thị trường khác. Để đạt được thành quả đó, Israel đã có chiến lược đúng đắn nhằm bảo tồn nguồn nước, tái chế, phát triển công nghệ và quản lý nguồn nước cũng như nâng cao nhận thức của người dân. Israel giờ đây không những có đủ nguồn cung nước, mà thậm chí có tiềm năng chia sẻ tài nguyên nước với các quốc gia láng giềng.

Phan Duy Hùng – Chi nhánh VCCI Nghệ An

Tưới tiết kiệm nước mang lại nhiều lợi ích

Mô hình tưới tiết kiệm nước cho nông dân nghèo.

Hội Nông dân (ND) tỉnh Ninh Thuận vừa phối hợp Tổ chức Phát triển quốc tế (iDE) Việt Nam tổng kết dự án “Giới thiệu mô hình tưới nước tiết kiệm cho ND nghèo Nam Trung Bộ” giai đoạn II (2014-2015).

Giai đoạn II, dự án triển khai tại 2 huyện Bác Ái và Thuận Bắc, kinh phí trên hỗ trợ 550 triệu đồng. Đã có 700 hộ ND được dự án hỗ trợ lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm với diện tích canh tác 192ha. Trước đó, giai đoạn I của dự án (2011-2013) có tổng kinh phí  1,6 tỷ đồng, giúp 1.600 hộ lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm với tổng diện tích canh tác là 380ha. Qua 5 năm thực hiện dự án đã có tổng cộng 2.350 hộ ND thuộc 40 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh được hỗ trợ lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm trên các diện tích trồng nho, táo, mãng cầu, mủ trôm, trồng cỏ và các loại rau màu khác. Hệ thống tưới nước tiết kiệm đã góp phần giảm chi phí nhân công lao động, hạn chế được sâu bệnh, bảo vệ tài nguyên nước, môi trường sinh thái. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ở những mô hình sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm đảm bảo an toàn thực phẩm, được đông đảo ND hưởng hứng.

 loi nhieu be tu ung dung tuoi nuoc tiet kiem hinh anh 1

Nhiều hộ nông dân huyện Ninh Hải (Ninh Thuận) đầu tư lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm nước. Ảnh: X.N

Hộ ông Hùng Ky, dân tộc Chăm ở thôn Tuấn Tú, xã An Hải (Ninh Phước) là 1 trong những hộ được tham gia dự án lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm giai đoạn I do Hội ND tỉnh triển khai. Ban đầu, ông Hùng Ky áp dụng mô hình tưới tiết kiệm trên diện tích 1.000m2. Thấy hiệu quả kinh tế khá do mô hình đem lại, ông Hùng Ky tự bỏ 100 triệu đồng mở rộng diện tích tưới tiết kiệm lên 2,5ha. Trên diện tích này, ông trồng các loại rau màu như măng tây xanh, đậu phộng, hành lá, cà rốt, cải xanh và trồng cỏ chăn nuôi. Qua 5 năm sản xuất hiệu quả với mức thu nhập vài trăm triệu đồng/năm, không chỉ gia đình ông thoát nghèo vươn lên khấm khá mà bản thân ông trở thành “chuyên gia” lắp đặt hệ thống tưới nước tiết kiệm.

Ông Trần Quốc Nam – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận ghi nhận nỗ lực của các cấp Hội ND trong tỉnh trong việc thực hiện thành công dự án. Hội ND các cấp cần vận động, tuyên truyền để nhân rộng hơn nữa việc áp dụng mô hình tưới nước tiết kiệm trong sản xuất nông nghiệp, ứng phó với hạn hán…

Hiệu quả từ mô hình tưới nước nhỏ giọt trên cây cam Đường Canh

Mặc dù mới được đưa vào vận hành cách đây chưa lâu nhưng hệ thống tưới nước nhỏ giọt trên cây cam Đường Canh của gia đình anh Bùi Đức Long, ở phố Kép, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đã cho thấy nhiếu ưu điểm như: Vận hành đơn giản, tiết kiệm công lao động và nước tưới, nâng cao hiệu quả sản xuất cho cây cam Đường Canh.

 Anh Long thăm vườn cam Đường Canh hơn 2 năm tuổi được chăm sóc từ hệ thống tưới nhỏ giọt
Anh Long thăm vườn cam Đường Canh hơn 2 năm tuổi được chăm sóc từ hệ thống tưới nhỏ giọt

Vốn là tỷ phú cam Đường Canh có tiếng của huyện niềm núi Lục Ngạn, anh Bùi Đức Long (SN 1967) hiện đang sở hữu ba trang trại trồng cam (ở các thôn Hiệp Tân, Hăng – xã Hồng Giang và thôn Nghĩa – xã Nghĩa Hồ) với tổng diện tích 5 ha, trong đó có gần 4 ha cho thu hoạch. Không chỉ là một trong những người đi đầu trong việc đưa cây cam Đường Canh về đồng đất Lục Ngạn (năm 2003), anh Long còn là nông dân tiêu biểu có nhiều sáng kiến, kinh nghiệm trong việc trồng và chăm sóc cam Đường Canh hiệu quả. Điển hình như giải pháp kỹ thuật “Xử lý ra hoa đậu quả không đào rễ trên cây cam Đường Canh” do anh nghiên cứu thành công đoạt giải nhất cuộc thi Sáng tạo nhà nông tỉnh Bắc Giang lần thứ VI năm 2015 và đoạt giải ba cấp trung ương. Thực hiện giải pháp này, việc chăm sóc cam Canh – cây ăn quả khó tính đối với gia đình anh nói riêng và người dân Lục Ngạn nói chung trở nên đơn giản hơn. Cũng nhờ đó, vườn cam nhà anh Long luôn cho năng suất và chất lượng quả tốt. Trong ba năm gần đây, sản lượng cam nhà anh Long luôn đạt từ 50 đến hơn 65 tấn quả, doanh thu đạt từ 1,8 tỷ đến 3,8 tỷ đồng/năm.

Tháng 12 năm 2015, vườn cam Đường Canh của gia đình anh Bùi Đức Long rộng 4 mẫu tại thôn Hăng, xã Hồng Giang được Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang lựa chọn và hỗ trợ kinh phí thực hiện mô hình thí nghiệm áp dụng hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam bằng công nghệ của Isarel. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của kỹ sư khoa học, chỉ sau nửa tháng tích cực thi công, hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam đã được lắp đặt xong và đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả tích cực.

Theo đó, hệ thống tưới nước nhỏ giọt gồm: máy bơm nước, cốc lọc, bộ châm phân, trục cấp nước bằng ống PVC, van điều áp, đường ống dẫn nước PE đến các luống, ống nhỏ giọt vào 1.800 gốc cam Đường Canh… Tổng chi phí khoảng 450 triệu đồng (bao gồm cả lương nuôi một kỹ sư theo dõi vận hành hệ thống tưới trong 1 năm), trong đó gia đình anh Long đóng góp 115 triệu đồng.

Anh Bùi Đức Long cho biết 1 gốc cam có 1,8 m dây tưới nhỏ giọt
Anh Bùi Đức Long cho biết 1 gốc cam có 1,8 m dây tưới nhỏ giọt

Hướng dẫn chúng tôi đi thăm vườn cam Đường Canh tươi tốt, lá xanh mướt, được đánh luống trồng theo hàng lối khoa học, anh Long phấn khởi cho biết: Từ khi đưa vào sử dụng đến nay, hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam đã phát huy nhiều ưu điểm tích cực như: tiếp kiệm thời gian tưới, lượng nước tưới và công lao động; bón phân dễ dàng với hiệu quả cao; lượng nước được thấm sâu giữ ẩm tốt nên cây phát triển rất xanh tốt, mặc dù cây mới được 2 năm tuổi nhưng đã cao to như cây 3 – 4 tuổi.

Cụ thể, trước kia nếu áp dụng tưới tràn thủ công cho vườn cam 4 mẫu này phải cần 3 công lao động thì nay nhờ hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ một người làm một giờ là xong. Mặt khác, khi tưới tràn loang, mỗi gốc cam mất khoảng 20 lít nước nhưng độ thấm không sâu nên sau 3 ngày phải tưới lại, còn tưới nhỏ giọt thì 6 ngày sau mới phải tưới lại. Đặc biệt là việc bón phân rất đều nhờ lượng phân bón được hòa tan hết vào thùng nước, qua bộ châm phân tưới đều cho các gốc nên hiệu quả bón phân rất cao.

Tuy nhiên, anh Long cũng lưu ý là không dùng được nước giếng khoan để tưới trực tiếp cho cây mà dùng nước hồ, vì giếng khoan ở địa phương có cặn đá vôi sau thời gian sử dụng sẽ gây tắc đường ống dẫn nước. (Nếu trường hợp phải sử dụng nước giếng khoan thì nên bơm nước lên bể để lắng cặn một thời gian rồi mới được đưa vào tưới).

Hiện anh Bùi Đức Long đang làm Chủ nhiệm câu lạc bộ trang trại cây ăn quả có múi trên địa bàn huyện Lục Ngạn. Câu lạc bộ có 23 thành viên là chủ trang trại ở các xã như: Tân Mộc, Phượng Sơn, Quý Sơn, Hồng Giang, Tân Quang… Câu lạc bộ thường xuyên sinh hoạt để thành viên trao đổi kinh nghiệm trồng, chăm sóc cây ăn quả có múi; liên kết trong sản xuất, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và thông tin cho nhau về đầu mối tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng là nơi để anh Long phổ biến kỹ thuật “Xử lý ra hoa đậu quả không đào rễ trên cây cam Đường Canh” và hiệu quả của mô hình tưới nước nhỏ giọt cho thành viên câu lạc bộ.

                  Đức Thọ

Đài TT Lục Ngạn, Bắc Giang

Gợi ý một số giải pháp chống hạn cho Cà phê, hồ tiêu

Khu vực Tây Nguyên đang trong thời kỳ khô nắng đỉnh điểm, dưới đây là một số gợi ý từ Bộ NN và PTNT giúp phần nào khắc phục, duy trì qua mùa khô hạn.

Đối với cà phê

Nhà Bè Agri thi công hệ thống tưới nhỏ giọt
Thi công hệ thống tưới nhỏ giọt

1. Nếu tưới gốc, lưu lượng nước nên duy trì 250-300 lít/gốc thay vì 400-600 lít/gốc như bà con thường áp dụng. Chu kỳ tưới 20-25 ngày

2. Tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc, lưu lượng 150-200 lít/gốc. Chu kỳ 20-25 ngày.

3. Sử dụng các loại phân bón lá có chữa Kẽm (Zn), bo (B), hoặc Nucafe từ 2-3 lần trong mùa khô để năng khả năng chịu hạn, chống rụng lá.

Đối với Hồ tiêu

1. Đối với cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cần sử dụng lưới che nắng để giảm cường dộ ánh sáng trực xạ, giảm bốc hơi nước.

2. Tưới gốc 120 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

3. Tưới nhỏ giọt 20 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

Ngoài ra bà con cần tìm mọi biện pháp tích trữ nước, không phát triển vùng trồng ở những nơi không có nguồn nước tưới. Tích cực áp dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm (tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun mưa). Tưới đúng thời điểm, vừa đủ nước.

Kết hợp bón phân qua hệ thống tưới nhỏ giọt để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Duy trì hệ thống cây che bóng, đai rừng phòng hộ, trồng cây che phủ đất, trồng xen cây ăn quả phù hợp. Tăng cường bón phân hữu cơ nhằm nâng khả năng giữ ẩm và giữ phân của đất. Tỉa bớt cành nhánh nhằm hạn chế thoát hơi nước. Thường xuyên kiểm tra vườn phát hiện sớm dịch hại để phòng trừ kịp thời nhằm tăng khả năng chống chịu của cây trồng trong điều kiện khô hạn.

Được biết mùa khô năm nay, đến thời điểm hiện nay, toàn khu vực Tây Nguyên đã có gần 40.140 ha cà phê, 2.290 ha tiêu bị thiếu nước tưới, hơn 7.100 ha lúa phải dừng sản xuất, hơn 8.400 ha lúa Đông Xuân… bị mất trắng hoặc giảm năng suất từ 30 đến 70%.

Nếu tiếp tục không có mưa, diện tích cây trồng chính bị hạn, thiếu nước tưới lên đến 167.000 ha; trong đó 14.600 ha lúa và 152.760 ha cà phê bị ảnh hưởng.

Cuối tháng 2 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hỗ trợ 85,1 tỉ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2015 cho 6 tỉnh khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn.

Lan Phương/Chinhphu.vn

Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước cho cây cam

Cam là cây trồng siêu lợi nhuận nhưng cũng rất ngốn nước tưới. Đối với cam trưởng thành đã cho thu hoạch, người nông dân phải tưới cam liên tục từ tháng 1 đến tháng 4 (mùa khô). Đối với cam non chưa cho thu hoạch, người nông dân thậm chí còn phải tưới với thời gian dài hơn, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Vì vậy, việc đảm bảo đủ nước tưới và tưới nước tiết kiệm trở thành vấn đề sống còn với vùng cam, đặc biệt là vào mùa khô khi mà các hồ chứa gần như đều cạn kiệt.

Nắm bắt được thực trạng này, Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam đã triển khai công nghệ tưới tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt) tại một số hộ trồng cam và bước đầu đã cho thấy hiệu quả kinh tế. Được biết, hệ thống này có tuổi thọ từ 10 – 12 năm và chi phí lắp đặt khoảng gần 50 triệu đồng/ha, rất phù hợp với khả năng đầu tư của người dân.

Được biết, hệ thống tưới nhỏ giọt này giúp các hộ trồng cam có thể tiết kiệm tới 50% lượng nước so với tưới tràn. Bên cạnh đó, hệ thống còn phát huy được nhiều ưu điểm khác như giảm chi phí thuê nhân công tưới nước, rút ngắn thời gian tưới nước và giảm được chi phí tiền điện bơm nước tưới. Đồng thời, vườn cam áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt còn cho ra những quả cam phát triển đồng đều, mọc chồi khỏe, ít sâu bệnh và ít bị sốc hơn do thường xuyên được giữ ẩm.

Đặc biệt, người nông dân có thể bón các loại phân bón dễ hòa tan như đạm, kali hay các loại phân bón dạng nước… nhờ hệ thống tưới nhỏ giọt thông qua bồn pha chế gắn tại van điều chỉnh tổng, từ đó giúp giảm được đáng kể công bón phân.

Hà Nguyễn