bộ lọc

Tưới nhỏ giọt cho cây cà phê, hồ tiêu

Phương pháp tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc cho cây tiêu

Đối với canh tác cây Hồ tiêu, yếu tốt nước tưới đóng vai trò đặc biệt quyết định năng suất, chất lượng trái tiêu.

Trong công tác tưới, nguồn nước và nhân công tưới lại là yếu tố quyết định để giúp tiết kiệm chi phí. Chọn đượcphương pháp tưới nước phù hợp có thể giúp bà con giải quyết được vấn đề này.

Cho tới nay, hầu hết bà con vùng Tây nguyên vẫn sử dụng phương pháp tưới dí để tưới cho Cà phê, hồ tiêu. Phương pháp này đơn giản, đầu tư ban đầu không đáng kể, dễ sử dụng, quen thuộc với hầu hết bà con, không đòi hỏi kỹ thuật cao. Tuy nhiên phương pháp này rất hao nước, tốn điện, dầu và tốn nhiều chi phí nhân công, không tưới được phân, thuốc bảo vệ thực vật…dẫn đến chi phí canh tác cao, trong khi năng suất không được cải thiện.

Cho đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều hộ dân lựa chọn và áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước. Đây là công nghệ tưới có nhiều ưu điểm vượt trội, đặc biệt là có thể gia tăng năng suất và chất lượng tiêu, giảm nhiều công chăm sóc và có thể kết hợp bón phân, bón thuốc. Những kết quả đạt được bước đầu từ việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt đã cho thấy công nghệ này đem lại hiệu quả cao đối với người trồng tiêu.

Anh Phan Văn Hà, thị trấn Buôn Đôn, Đăk Lak ứng dụng phương pháp tưới nhỏ giọt cho gia đình nhà mình được 2 năm trên diện tích 1ha. Khi chưa áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho vườn hồ tiêu, năng suất đạt được trung bình 12 tấn/ha so với trước đây chỉ đạt 8 tấn/ha (tăng 50%).

Về hiệu quả sử dụng nước, từ nguồn nước giếng khoan, với phương pháp tưới thủ công truyền thống, 4 ngày anh Hà mới tưới xong 1 ha. Đồng thời phải xoay vòng tưới liên tục hàng ngày. Lượng nước tưới trung bình 300 m3/ha/lần tưới, nửa cuối mùa khô thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu hụt nước tưới do lưu lượng giếng không đủ để bơm tưới. Chuyển sang áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, mỗi lần tưới 4 giờ/ha, lưu lượng tưới 60 m3/ha, 2 ngày anh Phong mới tưới 1 lần, mỗi lần vận hành tưới tổng cộng 8 – 9 giờ.

 

Tưới nhỏ giọt tăng năng suất hồ tiêu

Tưới nhỏ giọt tăng năng suất hồ tiêu

Về phân bón, anh cho biết theo kinh nghiệm, trước đây tưới theo theo phương pháp truyền thống anh phải làm bồn tưới và bón phân. Ẩm độ đất trong bồn lúc nào cũng cao do tưới nhiều nước trên 1 lần tưới trong mùa khô và mùa mưa nước đọng trong bồn không thoát nhanh được. Cây tiêu có bộ rễ rất nhạy cảm với ẩm độ, ẩm độ cao là môi trường rất tốt cho nấm bệnh và sâu bệnh hại rễ tiêu phát triển. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng phân bón cũng rất hạn chế. Sau khi sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, anh lên luống cho hàng tiêu, mùa mưa nước thoát rất nhanh giữ cho luống (hàng tiêu) ráo nước, mùa khô tưới duy trì ẩm độ vừa đủ trong tầng rễ tích cực sâu 30 – 50 cm. Nhờ vậy thuốc BVTV anh sử dụng cũng giảm đi đáng kể. Nhận thấy rễ tơ (rễ tích cực) của cây tiêu tập trung dày đặc xung quanh ống tưới nhỏ giọt, anh Phong cũng pha loãng với nước và sử dụng quahệ thống tưới nhỏ giọt. Khi áp dụng phương pháp tưới truyền thống trước đây anh bỏ phân 6 lần/năm, khoảng 0,5 kg NPK tổng hợp/trụ tiêu/lần bón, tổng lượng phân bón 5 tấn/ha/năm. Khi chuyển qua tưới phân hoà tan bằng thiết bị châm phân tự động trong hệ thống tưới nhỏ giọt, trong mùa khô anh chia nhỏ lượng phân và tưới phân định kỳ theo nước tưới, trong mùa mưa anh kiểm tra thường xuyên ẩm độ đất và khi ẩm độ đất phù hợp để rễ cây ăn phân, anh bơm ngay một lượng phân hoà tan qua hệ thống tưới vào vùng rễ cây. Lượng phân bón hòa tan sử dụng là 1,2 tấn/ha, tiết kiệm được hơn 40% chi phí phân bón trong khi năng suất tăng hơn 40% so với lúc chưa sử dụng tưới nhỏ giọt. Anh Hà cho biết, trước kia trung bình một năm vườn tiêu của anh cho thu nhập khoảng gần 800 triệu đồng, tuy nhiên, từ ngày áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, tổng thu nhập từ vườn tiêu của anh đã tăng thêm hơn 550 triệu đồng.

Tìm hiểu về hệ thống tưới nhỏ giọt bằng dây bù áp 12mm cho 1 ha hình:

– Trạm bơm và thiết bị đầu nối: Bao gồm 7 bộ phận chính là máy bơm điện 1 pha công suất 15 m3/giờ tại cột áp 25 m, lọc đĩa 60mm (công suất lọc 18m3/h); hệ thống châm phân bón, đồng hồ đo lưu lượng nước 60mm, đồng hồ đo áp lực 0 – 6 bar, van xả khí 34mm và các phụ kiện lắp đặt hoàn chỉnh bộ điều khiển trung tâm;

– Hệ thống ống chính và ống nhánh: Đường ống chính và ống nhánh sử dụng là loại ống nhựa PVC. Đường ống chính PVC 60 mm. Đường ống nhánh PVC 42 mm. Đường ống chính và ống nhánh khi lắp đặt được chôn sâu 50 cm. Các phụ kiện đường ống và đầu nối các loại được cung cấp đầy đủ để hoàn chỉnh lắp đặt theo thiết kế.

– Hệ thống van khu vực: Sử dụng van điều áp có chức năng điều chỉnh áp lực nước, kết nối với van đóng mở bằng tay. Cụm van khu vực sẽ được lắp đặt nổi trên mặt đất 30 – 50 cm.

– Hệ thống mạng dây tưới nhỏ giọt: Sử dụng dây nhỏ giọt bù áp 12mm có độ dày 0.6mm, áp lực hoạt động từ 0,5 – 2.0 bar, lưu lượng 2 lít/h.

– Chi phí bình quân cho mỗi ha khoảng 30-40tri.

Ngoài phương pháp tưới bằng dây nhỏ giọt cuốn quanh gốc, bà con cũng có thể sử dụng đầu tưới xòe, hoặc đầu tưới nhỏ giọt 8 tia, hoặc tưới phun mưa.

Bà con tham khảo thêm các thiết bị chuyên cho tưới hồ tiêu theo đường link.

Lọc màng Rivulis 2"

Hỏi đáp về bộ lọc cho hệ thống nhỏ giọt (Câu hỏi 13)

[su_spoiler title=”1. Tôi nên sử dụng bộ lọc với cỡ mắt lưới là bao nhiêu?”]Tùy thuộc vào yêu cầu của đầu nhỏ giọt, dây nhỏ giọt bạn sẽ chọn cỡ mắt lưới phù hợp. Thông thường có cỡ mắt lưới 120-155mesh. Đối với hệ thống phun sương có thể sẽ yêu cầu bộ lọc có mắt lưới dày hơn 200mesh.[/su_spoiler]

[su_spoiler title=”2. Có cần gắn thiết bị lọc cho hệ thống tưới không?”] Đối với hệ thống nhỏ giọt, tưới phun sương cần phải có bộ lọc. Nhà cung cấp có thể sẽ không bảo hành những lỗi hư hỏng của dây nhỏ giọt, đầu nhỏ giọt trong trường hợp hệ thống không được gắn bộ lọc. [/su_spoiler]

[su_spoiler title=”3. Tác dụng của bộ lọc là gì?”] Bộ lọc giúp giữ lại cặn rác, nhân tố chính gây nên hiện tượng tắc nghẽn.[/su_spoiler]

[su_spoiler title=”4. Có cần phải vệ sinh bộ lọc thường xuyên không”] Thường xuyên hay không cũng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước cấp. Vệ sinh bộ lọc giúp hệ thống hoạt động tốt hơn, hạn chế hiện tượng mất áp suất khi nước đi qua bộ lọc, và giúp đảm bảo bộ lọc cung cấp đủ lưu lượng nước cho hệ thống tưới.[/su_spoiler]

[su_spoiler title=”5. Sự khác biệt giữa lọc màng (lưới) và lọc đĩa?”]Lọc màng cho hệ thống tưới nhỏ giọt

Lọc màng là loại lọc khá phổ biến, và thường có giá rẻ hơn so vơi lọc đĩa. Lọc màng có khả năng lọc cặn rác dạng cứng như cát, rác, cặn bẩn… Tuy nhiên nó không lọc được triệt để các chất hữu cơ như tảo, rêu, nấm mốc, chất nhờn. Những vật thể mềm có thể sẽ len lỏi vào trong mắt lưới và rất khó để vệ sinh. Đồng thời chúng cũng có thể lọt qua mắt lưới. Có nhiều cách vệ sinh thiết bị lọc màng. Nhưng các đơn giản nhất là xả van ở phía cuối của bộ lọc.

Bộ lọc đĩa hệ thống tưới nhỏ giọt

Lọc đĩa ngoài những tính năng như của lọc màng (lưới) thì nó còn có khăng lọc được các chất hữu cơ. Bộ lọc đĩa bao gồm một trụ và các vòng đĩa xếp chồng lên nhau. Mỗi đĩa có các rãnh ở hai bên. Khi nước được đẩy qua các rãnh, rác hữu cơ, hay cáu bẩn được giữ lại tại thành ngoài của các đĩa xếp chồng lên nhau, trong khi đó nước sạch đi qua các rãnh đĩa và ra chàn ra ngoài bộ lọc.[/su_spoiler]

Tự thiết kế hệ thống tưới nhỏ giọt

Một số giải pháp tiết kiệm chi phí đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt

Hệ thống tưới nhỏ giọt với chi phí thấp

Tự thiết kế hệ thống tưới nhỏ giọt
Cách giảm chi phí đầu tư cho hệ thống tưới nhỏ giọt

1. Thiết kế chính xác và hợp lý là yếu tố đầu tiên để tiết kiệm chi phí đầu tư.

Một hệ thống tưới nhỏ giọt được thiết kế bài bản phải được tính toán về yếu tố kỹ thuật nông học kết hợp với yếu tố kỹ thuật thủy lực chính xác và chi tiết theo cơ cấu cây trồng, địa hình, nguồn điện nguồn nước, kết cấu đất và từng lớp thiết bị sử dụng.

2. Sử dụng dây nhỏ giọt lưu lượng thấp

Dây nhỏ giọt lưu lượng thấp không những chỉ mang lại lợi ích về kỹ thuật nông học như đã trình bày ở phần trước mà còn là giải pháp tiết kiệm chi phí đầu tư. Dùng dây nhỏ giọt lưu lượng thấp, ta sẽ tưới giảm được đường kính ống chính và ống nhánh, kéo theo giảm được đường kính và công suất của các thiết bị kèm theo như máy bơm, bộ lọc, bộ hút phân, van điều áp, van đóng mở….Ngoài ra còn giảm thiểu công vận hành hệ thống vì diện tích của một lần vận hành tưới sẽ rộng hơn.

Ví dụ một nông hộ sử dụng dây nhỏ giọt có lưu lượng 2L/h, vườn chia thành 04 van vận hành luân phiên, mỗi van tưới 1 giờ/ngày, lưu lượng một van là 20m3/h, ống chính 75mm, ống nhánh 60mm, bộ lọc 3”, bơm 5.5HP, nếu sử dụng dây nhỏ giọt có lưu lượng 1L/h, sẽ xảy ra hai trường hợp:

Nếu tiếp tục chia thành 04 van khu vực, công suất của hệ thống sẽ là 10m3/h, ống chính sử dụng ống 50mm, ống nhánh 40mm, bộ lọc 1.5”, máy bơm 3HP.

Nếu chia lại thành 02 van khu vực, công suất của hệ thống vẫn sẽ là 20m3/h, tuy nhiên vận hành chỉ còn 02 lần đóng mở van, tiết kiệm được 02 bộ van khu vực và công vận hành hệ thống.

3. Sử dụng dây nhỏ giọt có đường kính phù hợp với bố trí sản xuất.

Quyết định sự đồng đều của dây nhỏ giọt là sự kết hợp của 04 yếu tố: áp lực hoạt động, cơ chế bù áp của đầu nhỏ giọt, lưu lượng đầu nhỏ giọt và đường kính ống nhỏ giọt. Nếu giữ nguyên cấu tạo của đầu nhỏ giọt và áp lực hoạt động thì đường kính ống nhỏ giọt sẽ quyết định lưu lượng nước cung cấp cho một đường nhỏ giọt, tức là quyết định độ dài sử dụng của dây nhỏ giọt.

Thông thường đối với sản phầm dây tưới nhỏ giọt, đường kính ống 16mm, lưu lượng đầu nhỏ giọt 1L/h, khoảng cách lỗ nhỏ giọt 0.2m sẽ chạy dài được trung bình 100m, khoảng cách đầu nhỏ giọt 0.3m chạy dài được trung bình 160m, mà vẫn đảm bảo được độ đồng đều 93% theo chuẩn của dây nhỏ giọt. Đối với loại nhỏ giọt có tính năng tương tự, chỉ giảm đường kính ống xuống còn 12mm, đối với loại khoảng cách 0.2m dây nhỏ giọt sẽ chạy dài được trung bình 60m và khoảng cách 0.3m chạy dài được trung bình 100m. Nếu chiều dài luống (hàng cây) của nông hộ không vượt quá 60m hoặc 100m tùy theo lựa chọn sử dụng khoảng cách nhỏ giọt, chúng ta có thể sử dụng đường kính dây nhỏ giọt 12mm, sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí đầu tư vì đương nhiên là đường kính dây nhỏ giọt 12mm sẽ rẻ hơn nhiều so với đường kính 16mm.

Ngoài ra, nếu sử dụng dây nhỏ giọt 12mm, dải áp lực hoạt động của dây nhỏ giọt sẽ rộng hơn vì với cùng một độ dày thành ống, đường kính nhỏ sẽ chịu áp lực tốt hơn đường kính lớn, đồng thời áp lực tại ngưỡng giới hạn ống nhỏ giọt bị nổ, vỡ sẽ cao hơn so với với các loại có đường kính lớn hơn. Áp lực sử dụng trong ống lớn hơn cũng góp phần nâng cao hiệu quả việc thống ống nhỏ giọt, ngăn ngừa tốt hơn việc lắng đọng kết tủa gây tắc nghẹt đầu nhỏ giọt.

Nguồn sưu tầm